Chú Tâm Ngắn của Bồ Tát Di Lặc

Chú ngắn tâm của Bồ Tát Di Lặc

Chú ngắn tâm của Bồ Tát Di LặcOṃ mai maitriye svāhā)chủ yếu xuất phát từkinh điển Mật tông và nghi quỹ truyền thừa của Phật giáo Tây Tạng,trong kinh tạng Đại thừa Hán truyền không có câu chú bảy chữ hoàn toàn tương ứng.
Bối cảnh xuất xứ chi tiết và các nguồn kinh điển liên quan như sau:
1. Mật điển Tây Tạng và truyền thừa của các bậc đại đức (nguồn gốc cốt lõi)
Trong Phật giáo Tây Tạng, chú này là một biến thể của “chú danh hiệu”, đưa tên Phạn của Bồ Tát Di Lặc “Maitreya (梅怛梨耶)” vào trong vòng chú.
  • Truyền thừa cận đại:duyên khởi được lưu truyền rộng rãi ở Trung Hoa thời cận đại, chủ yếu là do bậc đại đức phái NyingmaThượng sư Tân Long Ô Kim Chi Mỹtruyền cho Lăng Nghiêm thượng sư, rồi từ Lăng Nghiêm thượng sư phổ biến đến các hành giả tu tập Hiển Mật và đệ tử của Từ Tông (Mật tông Di Lặc).
  • Sự biến đổi âm đọc:âm Tây Tạng thường đọc là Om Meim Maitriye Svaha,trong đó Meim(買/昧)làchủng tử tựcủa Bồ Tát Di Lặc, tượng trưng cho năng lượng cốt lõi cùng trí tuệ từ bi của Bồ Tát.
2. Căn cứ nền tảng trong kinh điển Hán truyền (xuất xứ của trường chú và công đức)
Mặc dù trong Mật giáo đời Đường hoặc trong Đại Tạng Kinh Hán truyền, câu chú ngắn bảy chữ này không có ghi chép từng chữ không sai, nhưngcông đức lợi ích và đại nguyện căn bảnđều xuất phát từ “kinh điển Di Lặc” của Phật giáo Đại thừa.
  • 《Đại Bảo Tích Kinh》 và 《Kinh Bổn Nguyện do Bồ Tát Di Lặc Sở Vấn》:trong kinh ghi lại lời phát nguyện của Bồ Tát Di Lặc khi tu tập “Từ tam muội” trong vô số kiếp quá khứ, đây chính là căn cứ nền tảng của “Maitriye (Từ Thị)” trong tâm chú.
  • 《Kinh Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên》:trong kinh nhấn mạnh pháp môn trì niệm danh hiệu Bồ Tát Di Lặc, phát nguyện vãng sinh nội viện Đâu Suất. Tâm chú của Mật tông chính là chuyển hóa pháp tu trì danh hiệu Hán truyền này thành pháp tu tương ứng bằng thần chú âm Phạn.
  • 《Kinh Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật》:trong kinh nói rằng khi Bồ Tát Di Lặc trong tương lai hạ sinh thành Phật, những ai kết duyên với Ngài đều được độ hóa trong hội Long Hoa ba lần; đây cũng là căn cứ kinh điển cho việc trì tụng chú này có thể “thấy Phật thọ ký”.

 

Sau đây là công hiệu của chú ngắn tâm Bồ Tát Di Lặc:

1. Chuyển hóa tâm niệm: tiêu trừ sân hận, tăng trưởng từ bi
Di Lặc (Maitreya) trong tiếng Phạn có nghĩa là “Từ Thị”. Trì tụng chú này có thể trực tiếp tương ứng với năng lượng tâm từ của Bồ Tát,giỏi nhất trong việc điều phục tính nóng nảy, oán hận và đố kỵ của chính mình,khiến nội tâm trở nên nhu hòa, đồng thời trong các mối quan hệ xã hội kết được nhiều thiện duyên, chiêu cảm quý nhân.
2. Gia hộ mạnh mẽ: tiêu tai miễn nạn, không đọa ác đạo
Theo truyền thừa mật điển, chú này có năng lực tịnh hóa nghiệp chướng cực mạnh.
  • Gia hộ hằng ngày:có thể làm lắng dịu các nghịch duyên, thị phi và tai họa bất ngờ trong cuộc sống.
  • Cứu độ căn bản:có thể tiêu trừ tội nghiệp sâu nặng tích lũy qua nhiều kiếp, bảo đảm người trì tụng sau khi mạng chung tuyệt đối không đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh
3. Phước báo hiện đời: bảo hộ thọ mạng, tài bảo sung túc
Chú này liên quan đến đại nguyện “tăng ích” của Bồ Tát Di Lặc. Thành tâm trì tụng có thể mang lạisự bình an và đầy đủ vật chất trong hiện đời,khiến người tu hành không bị sinh kế bức bách, có điều kiện tốt hơn và tâm cảnh an ổn hơn để tinh tấn tu tập.
4. Bảo đảm tối hậu: tương lai nhất định thấy Phật thọ ký (Long Hoa tam hội)
Đây là công hiệu đặc thù tối thù thắng của pháp môn Di Lặc. Chỉ cần hiện đời trì tụng chú này và kết pháp duyên với Bồ Tát, khi đến kiếp tương lai Bồ Tát Di Lặc từ cõi trời Đâu Suất hạ sinh xuống nhân gian thành Phật, người trì chúnhất định sẽ là nhóm đầu tiên trong “Long Hoa tam hội” khai ngộ, nghe pháp và được thọ ký thành Phật
5. Bàn đạp tốt nhất: lúc lâm chung thuận lợi vãng sinh Tịnh độ Đâu SuấtĐối với hành giả phát nguyện cầu sinh Tịnh độ, trì tụng chú này có thể nhận được nguyện lực tiếp dẫn của Bồ Tát, khi lâm chungtâm không điên đảo, thuận lợi vãng sinh nội viện cõi trời Đâu Suất,được thân cận Bồ Tát Di Lặc nghe chánh pháp, vĩnh viễn không thoái chuyển.
 
Sau đây là nguyên văn:
Om Me Da Li Á Tư Wa Ha