Chỉ cần đó là “tu hành chân chính,” người ta có thể đạt được sự giác ngộ bất kể tôn giáo mà họ tin tưởng.
Hiện nay, có khoảng 84.000 con đường tôn giáo và 3.600 cánh cửa trên thế giới, nhưng những con số đó chỉ là tính từ. Trên thực tế, tất cả các giáo lý của những con đường này được sinh ra để chống lại mọi loại tâm trí. Nếu con người không có sự ngu muội hay những suy nghĩ ảo tưởng, thì không cần phải tồn tại bất kỳ con đường nào như vậy!
Vì vậy, mỗi nhóm tu hành đều tin rằng họ đang tu tập. Tuy nhiên, thực tế là không có mối quan hệ trực tiếp hay cần thiết giữa một tôn giáo, giáo phái hay con đường và việc liệu các tín đồ của nó có thực sự đang tu hành hay không. Nói cách khác, tin vào một tôn giáo không đồng nghĩa với việc thực hành (mục đích của việc tin vào một tôn giáo là để cung cấp cho tinh thần của mình một đối tượng và mục tiêu để dựa vào). Tham gia vào bất kỳ con đường nào cũng không thể chứng minh rằng họ đang thực sự tu hành; tu hành là một quá trình thay đổi những khái niệm và hành vi sai lầm và không có mối quan hệ trực tiếp hoặc cần thiết với bất kỳ tôn giáo, đền thờ hoặc học thuyết nào.
Mặc dù có nhiều người thực hành sau khi thành lập các tổ chức tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới, nhưng vẫn còn nhiều cá nhân đã thực hành trước khi bất kỳ tôn giáo nào được thành lập. Tôn giáo chỉ đơn giản là một nhóm nhằm giáo dục chúng sinh thông qua thực hành. Các kinh điển và học thuyết của các tôn giáo đại diện cho những hiểu biết mà các bậc thầy cổ đại đạt được trong quá trình tu tập—cùng với phương pháp và kỹ thuật của họ để đạt được giác ngộ. Vì vậy, đừng nhầm lẫn rằng tham gia vào bất kỳ nhóm tôn giáo hoặc thực hành nào cũng đồng nghĩa với việc tu hành chân chính.
PS: Dưới đây là một số câu hỏi tự đánh giá để xác định xem bạn có đang thật sự tu tập hay không: Tính khí, tính cách, tư duy, kiên nhẫn và khả năng chịu đựng của bạn có đang dần điều chỉnh và thay đổi không? Bạn có thấy mình không thể chịu đựng lời nói và hành động của người khác? Bạn có nghi ngờ gì không? Bạn có cảm thấy ghen tị? Bạn có tâm lý so sánh không? Bạn có chỉ trích người khác không? Một số người nhầm tưởng rằng họ đang tu tập trong khi tham gia vào nhiều hành động hoàn toàn trái ngược với tu tập chân chính mà không nhận ra!
Chúng tôi đã gặp nhiều anh chị em cùng chia sẻ một vấn đề chung—họ thích làm thầy cho người khác; họ thích dựa vào kinh nghiệm của mình như một quyền lực; họ thích áp dụng phương thức cá nhân lên mọi người mà không nhận ra rằng mỗi người đều có nguồn gốc trí tuệ và phẩm chất khác nhau. Làm sao ai đó lại dạy hoặc hướng dẫn người khác bằng cách áp dụng phương pháp “một kích cỡ phù hợp cho tất cả”? Đây cũng là một thiếu sót phổ biến ở nhiều ngôi chùa!
Tin vào Chúa hay Phật hoặc tham gia vào các con đường tôn giáo khác nhau không đồng nghĩa với việc bạn đã bắt đầu tu tập vì niềm tin vào Chúa hoặc lòng kính trọng đối với Phật liên quan đến những đối tượng bên ngoài trong khi trọng tâm của việc tu tập nên đặt lên cơ thể và tâm trí của chính mình! Những tín đồ tham gia các nhóm tôn giáo khác nhau chỉ công nhận các học thuyết hoặc lý tưởng của những tôn giáo đó; việc thờ phượng một vị thần cụ thể chỉ thể hiện lòng kính trọng đối với họ hoặc hy vọng rằng họ sẽ dẫn dắt chúng ta đến giác ngộ—nhưng điều này hoàn toàn không liên quan trực tiếp đến việc tu tập chân chính.
Có rất nhiều tín đồ tin vào Chúa hoặc Phật trên khắp thế giới; tuy nhiên, trong số đó cũng tồn tại nhiều kẻ phạm lỗi! Liệu chúng ta có thể nói rằng tất cả họ đều đang thật sự tu tập? Bản chất của việc tu tập chân chính nằm ở việc hiểu biết về các nguyên lý phổ quát bao trùm mọi thứ và sử dụng hiểu biết này để thay đổi những khái niệm sai lầm trong quá khứ cùng những hành vi sao cho chúng dần phù hợp với các nguyên lý vĩ đại—cuối cùng đạt được sự giải thoát khỏi nghiệp vật chất và ràng buộc tinh thần. Nếu điều này chưa xảy ra thì đó chưa phải là tu tập chân chính!
Nếu ai đó chưa đạt được giác ngộ cho bản thân thì làm sao họ nhận thức đúng đắn về con đường đi hay thoát khỏi vòng sinh tử? Vì vậy, việc tu tập chân chính nên được đánh giá bởi liệu cá nhân đó hiểu rõ về thực tại vũ trụ trong khi dần chuyển hóa những khái niệm sai lầm trong quá khứ thành cuộc sống hàng ngày.
Mỗi tín đồ đều tin rằng học thuyết tôn giáo của mình là tối cao hoặc rằng các vị thần của họ giữ vị trí cao nhất; tuy nhiên, điều này phản ánh sự hiểu lầm hoàn toàn về nguyên lý “không nơi nào thiếu con đường” cũng như “tất cả các học thuyết đều chia sẻ nguồn gốc chung.” Hiện tượng vũ trụ ban đầu chính là “đại nhất thể!”
Các linh hồn vô số, hiện tượng và thực thể phát sinh từ những hình thức khác nhau trong đại nhất thể này; ngoài nguồn gốc này—có còn vật liệu nào từ vũ trụ khác nữa hay không? Có phải tất cả các tín đồ đều rõ ràng rằng tất cả các học thuyết trên thực tế đều chia sẻ nguồn gốc chung? Hiện nay tất cả các học thuyết tôn giáo đều khó tránh khỏi năm truyền thống lớn: Nho Giáo (儒), Phật Giáo (釋), Đạo Giáo (道), Thiên Chúa Giáo (耶), Hồi Giáo (回). Học thuyết Nho Giáo đề cập đến những phẩm hạnh cơ bản cần thiết cho nhân cách; Thiên Chúa Giáo nhấn mạnh tình yêu vượt lên bản thân trong khi giúp đỡ người khác theo khả năng riêng; Phật Giáo dạy về sự giải thoát hoàn toàn khỏi mọi ràng buộc thế gian; Hồi Giáo trở lại bản chất thuần khiết ban đầu; Đạo Giáo cổ vũ phi tác động theo quy luật tự nhiên mà không ép buộc kết quả. Do đó năm thuật ngữ này không đề cập cụ thể đến các tôn giáo mà biểu thị năm biểu hiện riêng biệt của biến hóa âm-dương—hoặc ẩn dụ đại diện cho năm hướng triết học khác nhau trong nguyên lý phổ quát. Chỉ khi những triết lý này kết hợp lại mới giúp chúng ta đạt được sự hoàn thiện trên con đường đi tới giác ngộ—mục tiêu phía sau mỗi hướng triết học nhằm dẫn dắt chúng sinh hướng tới tỉnh thức—những triết lý bình thường bên trong mỗi tôn giáo chỉ đơn thuần phục vụ như những dấu hiệu dẫn tới chân lý!
Tuy nhiên, những dấu hiệu này chẳng phải là chân lý thật sự—chúng chỉ như chiếc bè giúp mọi người thoát khỏi đau khổ nhưng lại chưa tới bờ giác ngộ! Mỗi con đường tôn giáo đóng vai trò như một cánh cửa dẫn đến chân lý tối cao vì vậy được gọi chung là “các con đường” vì vô số lối đi tồn tại cho việc thực hành nhưng chỉ duy nhất một lối đi dẫn đến nhận thức đưa chúng ta trở về nhà—do đó mới nói: “nhiều con đường dẫn đến nơi thuận lợi nhưng trở về nhà thì chẳng còn lối thứ hai,” do vậy gọi lối đi duy nhất hướng tới nhận thức ấy là “phương pháp phi nhị nguyên!”
Vì vậy tất cả các học thuyết tôn giáo thiếu phân biệt giữa “đúng” và “sai,” chỉ tồn tại góc nhìn khác nhau dựa trên hoàn cảnh thuận lợi hoặc bất lợi—giống như cách mà thầy cô/phụ huynh dạy bảo học sinh/trẻ em phải thích ứng theo từng bản chất cá nhân sử dụng “giáo dục yêu thương” so với “kỷ luật nghiêm khắc.” Không thể nói sử dụng phương pháp yêu thương biểu thị “đúng” còn kỷ luật nghiêm khắc biểu thị “sai.” Liệu phương pháp yêu thương có hiệu quả trong việc dạy trẻ em trong khi kỷ luật nghiêm khắc lại thất bại?
Tu luyện hoạt động tương tự nơi mà chúng sinh ở mức độ khác nhau cần tài liệu giảng dạy phù hợp nhằm truyền cảm hứng cho tinh thần – liệu học sinh tiểu học có nắm bắt được kiến thức giải tích cấp đại học hay không? Do đó ngay khi người thực hành bước vào những con đường cụ thể nếu họ nhận ra chân lý áp dụng nó một cách thiết thực đạt được giải quyết nghiệp vật chất cùng giải thoát tinh thần cuối cùng – điều đó cấu thành nên thực tiễn chân chính.
Sự giải quyết này tương ứng với cái mà Phật Giáo gọi là “trở thành Phật” còn Đạo Giáo gọi là trở thành bất tử – nó đại diện cho mục đích thật sự phía sau quá trình luyện! Chỉ khi đạt tới độ thuần khiết vô nhiễm mới khiến linh hồn hoàn toàn phá vỡ chu kỳ qua ba cõi sáu đạo – thuật ngữ “Phật” & “bất tử” mang ý nghĩa ẩn dụ do vậy người luyện ở nhiều truyền thống phải tránh bị đánh lừa bởi diễn giải văn bản nếu không sẽ lệch xa khỏi phương pháp đúng đắn.
Tại sao hôm nay chúng ta lại bám víu vào một số religions chấp nhận giảng dạy tuyên bố ở đó? Chính bởi vì cuộc sống trước đây thiếu hiểu biết về triết lý như vậy! Những ai nghiên cứu Phật Giáo vẫn tiếp tục do chưa giải quyết hết cái nhìn sâu sắc về nguyên lý Phật Giáo do vậy tái sinh lần nữa theo đuổi Dharma còn những ai luyện Nho cũng tương tự quay trở lại tìm kiếm thêm kiến thức do trước đây chưa hoàn thiện – vũ trụ ban cho chúng ta cơ hội tái sinh mới chấp nhận thử nghiệm vì thế chúng ta phải nắm bắt cơ hội hiếm hoi khám phá sâu sắc chân lý! Tại sao Phật Giáo tuyên bố “Dharma khó nghe,” còn Đạo Giáo nói “Đạo thật khó tìm”? Nói đơn giản thì tín đồ nhầm lẫn nội dung văn bản bên trong kinh điển thật sự đại diện Dharma còn tín đồ Đạo Gia hiểu sai vài văn bản tuyên bố nó chứa đựng Đạo thật khiến nhiều tín đồ tin tưởng cái mình theo hơn – chẳng phải đây gọi là ngu muội?
Tu luyện yêu cầu phát triển trí huệ thật sự giúp phân biệt giữa đúng sai xuyên suốt muôn hình muôn vẻ vấn đề/thực thể nếu ai nhầm lẫn văn bản hữu hình coi nó đơn thuần như tài liệu vật chất misinterpreting them actual invisible truths isn’t ignorance itself?! Sự thật & giả tạo vốn tồn tại song song hai mặt đồng tiền mang nguyên lý màu sắc dạng vô hình mối quan hệ giữa essence function wise individuals perceive clearly avoiding delusion!
Điều này giúp phân biệt giữa Đức Phật giả vs Đức Phật thật cùng với hoạt động giả so sánh hoạt động chân chính đảm bảo luôn tránh bị đánh lừa bởi văn bản viết hữu hình (chỉ ghi nhớ đọc văn bản sẽ chẳng đưa đến tỉnh thức hơn nữa cần insight realization embedding Buddhist/Taoist teachings daily lives!). Chúng tôi đã gặp rất nhiều anh chị em chăm chú nghiên cứu kinh điển nhưng bị mắc kẹt trong cái bẫy ngữ nghĩa thất bại thoát khỏi điều gọi ‘chướng ngại văn bản’! Người luyện thiếu insight dễ dàng sa bẫy vẻ ngoài đánh bóng phát sinh từ hiện tượng thế gian trong khi người sáng suốt sử dụng ‘giả’ nuôi dưỡng ‘thực.’ Nhiều nhà truyền bá kiên quyết giữ lấy niềm tin cụ thể đảm bảo giải thoát yet some claim guidance through enlightened masters ensures heavenly registration hell exclusion—but if so why haven’t Jesus Confucius Siddhartha Laozi Muhammad etc., remained trapped reincarnation wandering midst life/death cycles?
Tại sao lại như vậy? Bởi vì chẳng ai đáp ứng tiêu chí vừa nêu! Niềm tin chẳng đồng nghĩa với việc luyện cũng chẳng đảm bảo đạt giác ngộ nor implies opposing beliefs prevent attainment otherwise enlighten me what faith Laozi embraced attaining his realization?! Những người cultivators chân chính đối mặt thử nghiệm xác đáng vượt qua thử thách độc lập mới đạt giải thoát vì thế miễn cưỡng engage sincerely regardless belief system enlightenment remains attainable!
Nếu ai đó luyện insincerely irrespective belief system realization remains elusive—isn’t it so?
Tự nhiên bao hàm Dao tự thân nơi ‘Dao’ ký hiệu triết lý hòa quyện âm-dương—for instance couples differ educational backgrounds experiences beliefs preferences family histories personalities habits etc., if neither attains enlightenment disputes inevitably arise leading breakdown relationships familial unrest child distress parental anxiety prompting societal need establish ‘couples harmony’ reflecting yin-yang synthesis philosophy manifesting everywhere throughout mundane world encompassing culture ethnicity gender politics military religion etc., hence families societies nations international communities experience chaos yet enlightened individuals remain unaffected.
Sự hiện diện đối lập thúc đẩy tích hợp nơi mâu thuẫn bao hàm Dao bởi vì chẳng gì tồn tại thiếu Dao nor absence sacred spaces thus sincere cultivators amidst worldly phenomena surely recognize where lies Dao rightfully! Do đó realization doesn’t hinge upon which faith adhered nor solely studying particular scriptures more importantly engaging practical applications daily life recognizing profound truths therein understood by sincere practitioners alike!
bởi- Cihuang Palace Phoenix Mountain
Để lại một bình luận
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.