Tự nhìn nhận, tự suy ngẫm và sự thăng hoa về tinh thần

Xem lại nội tâm và sự nâng cao tinh thần

Có câu nói: “Thiên tác nghiệt còn có thể tránh, tự tác nghiệt thì không thể sống.”
Cần biết rằng, lý do con người thường bỏ qua lỗi lầm của chính mình chủ yếu là do ‘tâm tham lam, tâm ích kỷ và tâm kiêu ngạo’ trong bản chất con người.

“Có tội từ trời, còn có thể tránh; có tội từ mình, không thể sống” là câu nói được Mạnh Tử trích dẫn từ sách Thượng Thư trong phần “Thái Giáp”, có nghĩa là: thiên nhiên gây ra tai họa cho con người, con người có thể may mắn thoát khỏi; nhưng tội lỗi do chính mình gây ra thì phải tự gánh chịu hậu quả xấu, không thể trốn tránh.

Việc tu hành thường bị ảnh hưởng bởi lòng tham và dục vọng – muốn người khác tha thứ cho mình, càng thêm vì lòng kiêu ngạo – khiến người khác ca ngợi mình, dần dần hình thành thói quen trách móc người khác và phô trương bản thân, dẫn đến việc tự biện minh cho bản thân và tha thứ cho chính mình một cách dễ dàng.

Các bậc thánh hiền nói:
Không biết mình thiếu sót – đó là vô tri.
Biết mà không đi sửa chữa – thì đó là cứng đầu.

Tu hành cần tránh chỉ chú trọng vào ‘hình thức bên ngoài’, điều này chỉ khiến thói quen xấu của chúng ta ngày càng sâu sắc hơn và xa rời đạo đức. Chỉ khi giữ vững tâm hồn thuần khiết, giản dị và chân thật mới có thể vượt qua những thử thách và trở ngại.

Cần biết rằng một cây đại thụ nghìn năm đã trải qua bao nhiêu gió sương mưa nắng mà vẫn đứng vững; cuối cùng bị đánh bại vẫn là – ‘sự ăn mòn của sâu rễ’, chướng ngại của một người tu hành chủ yếu đến từ –

các ‘ma quái trong lòng sâu thẳm mà không thể xua tan’, vì vậy mới nói kẻ thù đáng sợ nhất thực sự chính là bản thân bạn.

Học cách tha thứ cho tất cả mọi người, dù có hận thù lớn đến đâu cũng phải cố gắng tha thứ cho họ, tha thứ cho những ai đã làm tổn thương chúng ta. Nếu trong lòng luôn chứa đầy hận thù và oán trách người khác thì thực ra chính chúng ta mới là những người bị tổn thương nhiều nhất. Đừng lấy lỗi lầm của đối phương để trừng phạt chính mình,

bắt buộc phải hoàn toàn buông bỏ lòng hận thù đối với người khác. Chỉ như vậy tâm hồn mới dần dần rộng mở hơn, tinh thần mới thực sự được giải thoát. Thành tựu của một người tu hành chính là từ sự tha thứ mà đạt được.

Có câu nói rằng: “Nhỏ lại bản thân thì mới có thể bao dung người khác.” Ý nghĩa là: đầu phải cúi xuống, tâm lượng phải lớn lao; trí tuệ lớn như ngu si thì mới có thể bao dung mọi ân oán và đúng sai trên thế gian. Do đó việc rèn luyện tâm tính cần phải hướng vào bên trong;

thông qua việc luyện tập tâm trí qua các tình huống giả định để phát triển chân lý; nếu chỉ làm công việc bề ngoài như nghe kinh mỗi ngày hay cứu độ chúng sinh nhiều nhưng thói quen và bản tính vẫn không thay đổi thì vẫn không thể đạt được thành tựu.

Tu đạo thường nói: Con đường tu hành nếu càng đơn giản thì nội tâm sẽ càng thanh tịnh; tu hành cần tập trung nhất quán, không được hào nhoáng mà vô thực. Nếu có môi trường thanh tịnh đơn giản còn cần học cách làm sao để không vọng tưởng, không giả tạo và chân thật như vậy mới kích thích tiềm năng bên trong.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Sâu sắc vào kinh điển, trí tuệ như biển.”

Có nghĩa rằng: Không chỉ ở văn tự Bát Nhã mà còn cần sâu sắc vào ý nghĩa của kinh điển để tương hợp với ‘lương tri’ bên trong chúng ta nhằm đánh thức lương tri vốn có của bản thân; từ đó phát triển tiềm năng trí tuệ vốn sẵn có cũng như mở rộng trái tim rộng lớn như biển cả để cứu độ vô lượng chúng sinh.

Một vị chân tu chứng đắc chắc chắn sẽ sở hữu trí tuệ vô biên vô lượng để dẫn dắt chúng sinh hiểu rõ Phật pháp và Đạo pháp; đồng thời trong cuộc sống hàng ngày cũng thực hiện Phật pháp và Đạo pháp nhằm mở ra sự giải thoát tự tại từ giác ngộ vốn có. Các vị Phật ba đời cũng đều đạt được thành tựu nhờ trí tuệ.

Cần biết rằng việc tu tập Bồ Tát Đại Thừa chắc chắn cần phải hoàn thiện trí tuệ mới có thể “vào sinh tử mà không sợ hãi, hành đại từ bi mà không chờ duyên; chuyển phiền não thành Bồ Đề, ở thế gian như Niết Bàn; chuyển pháp luân như thiền định”.

Con người là loài động vật phức tạp nhất về nhận thức của chính mình vì trên bầu trời ‘tâm trí’ mỗi cá nhân rất ít khi nào thấy trời quang mây tạnh. Nguyên nhân gì?

Thường bị ân oán bất bình hay giận dữ che phủ hoặc “bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài làm mờ đi trái tim thuần khiết”, nguyên nhân sâu xa chính là chưa tìm được cách đúng đắn để nhận biết bản thân và hiểu rõ về chính mình.

Thông qua sự chỉ dẫn của bậc minh sư mà mở ra ánh sáng nơi tự tính giúp nhìn nhận đúng đắn về bản thân cũng như hiểu rõ ưu điểm lẫn khuyết điểm của mình; những điểm yếu kém cần tăng cường thêm sức mạnh còn ý chí mạnh mẽ sẽ giúp sử dụng tốt,

chỉ khi nào kiên trì cùng với trí tuệ và đạo tâm cộng thêm sự chăm chỉ chịu khó mới vượt qua mọi khó khăn cũng như vượt qua mọi trở ngại. Dù thời tiết bên ngoài khắc nghiệt đến đâu cũng khó ảnh hưởng đến quyết tâm tu đạo của chúng ta.

Hãy thử nghĩ xem mọi người trên đời này mỗi ngày đều chăm chỉ làm việc vất vả vì điều gì? Lực lượng nào thúc đẩy họ nỗ lực hết sức? Là danh tiếng? Là lợi ích? Cuộc đời ngắn ngủi đầy vui vẻ cuối cùng cũng khó thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

Mà các vị Phật Bồ Tát lại chẳng yêu danh tiếng hay lợi ích gì cả; họ ở ba cõi giúp đỡ chúng sinh “thậm chí còn vất vả hơn cả chúng ta”. Lực lượng nào đang thúc đẩy đây?

“Đó xuất phát từ tình yêu thương sâu sắc nơi nội tâm – tình yêu ấy chính là đại từ đại bi.” Nếu thiếu đi cái “từ bi kiên trì” ấy thì làm sao giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau tìm kiếm an vui?

Xã hội hiện nay rất nhiều người học Phật học Đạo cũng nhiều bậc tiền bối – đều giảng kinh truyền đạo rất giỏi lý luận thông suốt nhưng tại sao họ lại không trở thành những đứa con thật sự của Phật hay Đạo? Nguyên nhân chủ yếu nằm ở chỗ “nghiên cứu Phật pháp trên giấy”,

khiến họ chưa thực sự tiếp xúc với ý nghĩa chân thật của Phật pháp hay Đạo pháp; “nhìn thấy thiếu sót ở người khác nhưng lại không thấy khuyết điểm ở bản thân”, nên chẳng cách nào biểu hiện được ước muốn Bồ đề bên trong!

Nếu một cá nhân “không có Bồ đề trong lòng hay ước muốn bi thương”, tức là chưa giác ngộ dù đã thuộc lòng ba tạng mười hai bộ kinh đọc thuộc lòng nhưng vẫn chỉ là phàm phu tục tử xa rời cảnh giới Phật rất xa,

Dù bề ngoài nhìn rất cố gắng chăm sóc nhưng thực chất nội tâm vẫn tồn tại “chấp trước cái tôi”, “tâm tư riêng tư” cùng “tham ái”, nên công phu này chẳng khác gì với chúng sinh vì thiếu đi Bồ đề tâm cùng ước muốn bi thương vậy. </ p >

Bồ đề tâm thật sự nơi sâu thẳm nội tâm luôn rõ ràng sáng suốt thường mang theo niềm vui thích đối diện với cảnh trần tục một chút bụi nào cũng chẳng nhiễm ô; hành động công bằng ngay thẳng biểu hiện khí chất đạo đức nơi nét mặt hiền hòa khiến cho mọi chúng sinh cảm nhận được sự gần gũi dịu dàng ấy – đó chính là cái gọi là “sức hấp dẫn”. 

Cổ nhân đã từng nói: “Tu đạo cần cảm xúc kết nối”. Chỉ khi nào kết nối cảm xúc ích kỷ sau này mới phát huy được Bồ đề tâm “chân tình” “chân tính” vốn sẵn có trước kia để cứu độ vô lượng vô biên quần chúng rộng lớn – tức biến tình yêu nhỏ bé cá nhân thành tình yêu lớn lao biến hóa trái tim thương xót thành đại từ đại bi vậy.

Khi trái tim thanh tịnh không còn chướng ngại lúc đi bộ hay ngủ nghỉ đều cảm thấy vui vẻ mãn nguyện – lúc đó gia đình bạn hay công việc bạn đều trở thành đạo trường rồi! Nếu “trong lòng đầy phiền não”, “chấp trước oán hận” một đống thì dù quét nhà hay ăn cơm mọi tiếp xúc đều trở nên phiền não oán trách cả thôi! 

Chúng ta đang sống giữa xã hội biến đổi muôn hình vạn trạng hãy suy nghĩ cẩn trọng! Một niệm bị mê hoặc liệu bao giờ mới bước ra khỏi mê muội đây? Câu nói “Một niệm lan rộng ba nghìn” tức ngay cả một niệm vọng tưởng cũng đủ kéo theo nhiều “hạt giống phiền não”, khiến cho bản thân khó lòng thanh tỉnh nổi!

Tu hành cần chú ý rằng: “Mỗi lần động niệm nghiệp báo sẽ đến”. Khi nghiệp báo ập tới núi lở đất nứt tất cả những gì đã tích lũy trước đây sẽ tiêu tan hết chỉ còn lại liên tục gieo trồng ruộng phúc,

bằng sức mạnh công đức chuyển hóa nghiệp lực riêng tư nhằm an nhiên vượt qua thời kỳ phản kích thu hồi nghiệp lực đồng thời thông qua quá trình thanh lọc yên ổn tiến hóa đạt tới thế mạnh âm dương hai lợi ích! 

Vì vậy biểu hiện “Bồ đề bi nguyện” tức tỉnh thức tinh thần – chỉ thông qua sức mạnh giác tỉnh nơi bản thân mới giải thoát khỏi nhiều dây dưa phiền não đau khổ nên giác tỉnh vốn dĩ đã trở thành loại “trí huệ thanh tịnh”, nhờ giác tỉnh mà tiêu diệt hết mọi bóng tối hóa giải tất cả chướng ngại tất cả sức cản đau khổ! 

Bồ đề bi nguyện – tức trái tim đại bi sâu sắc của Bồ Tát – 《Chí tại Bồ đề , Tâm tồn chung sinh》thực hiện đúng nghĩa vụ rộng rãi sửa đổi tất cả thiện hạnh mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh mà chẳng chấp trước vào cái tôi hoàn toàn hy sinh sức lực cùng ước muốn!