Các cảnh giới của tri thức, cảm nhận và chứng ngộ
Đừng coi tri thức là cảm nhận, đừng coi cảm nhận là chứng ngộ. Người tu hành thiền định nên phân tích kỹ lưỡng ba cảnh giới: tri thức, cảm nhận và chứng ngộ trong quá trình thiền.
Tri thức có nghĩa là biết và hiểu, thông qua nghe và suy nghĩ để lý giải lý thuyết, trong tâm có sự lĩnh hội. Mặc dù biết rằng bản chất của tất cả pháp là tính không, nhưng chỉ đơn thuần có tri thức thì vẫn chưa thể tiêu diệt mọi phiền não, cũng chưa thể đạt được giải thoát. Tri thức không đồng nghĩa với chứng ngộ, khoảng cách giữa hai điều này vẫn còn rất xa. Chẳng hạn như biết rằng uống thuốc có thể chữa bệnh, nhưng chỉ biết mà không thực sự uống thì bệnh sẽ không khỏi.
Về mặt rộng rãi, các cảm giác trong quá trình tu hành, cảm nhận khi ngồi thiền, cảm xúc dưới chỗ ngồi, niềm tin và những thay đổi trong hoàn cảnh sống của bản thân đều thuộc về cảm nhận. Còn theo nghĩa hẹp, cảm nhận là những trải nghiệm thực tế phát sinh từ thiền định sâu sắc hơn so với tri thức. Sự xuất hiện của cảm nhận liên quan đến chướng ngại phiền não và chướng ngại tri thức. Về mặt thứ tự thiền định thì chủ yếu đề cập đến chướng ngại tri thức. Ví dụ như sau một thời gian tu tập thiền định xuất hiện trạng thái bình tĩnh và sáng suốt, cảm giác “cái tôi” đã tiêu tan nhưng thực tế vẫn còn những khái niệm như “thiền định của tôi”, “cảnh giới không hai của tôi”, v.v., đây chính là do chướng ngại tri thức gây ra, còn được gọi là pháp chấp.
Cảm nhận được chia thành hai loại: thượng thượng giác và hạ thượng giác. Thượng thượng giác bao gồm các cảnh giới thiền định vui vẻ, sáng suốt và vô niệm. Hạ thượng giác bao gồm các phiền não như u ám, lơ đãng, nặng nề cùng với tham sân si mạnh mẽ hay niềm tin suy giảm. Cảm giác trong quá trình tu hành chỉ là một tác động tâm lý; chẳng hạn như khi cảm thấy cái nhìn về thiền khác với trước đây thì đó là quá trình tự nhiên phát triển của phương pháp tu tập; nó có thể giúp chúng ta xây dựng niềm tin nhưng không đồng nghĩa với niềm tin. Dễ dàng phát sinh chấp trước nhất thường là từ thượng thượng giác trong quá trình tu hành. Tuy nhiên, cảm nhận không đồng nghĩa với chứng ngộ vì nó có tính sinh diệt; nếu không tiếp tục tu tập thì rất dễ biến mất và không đáng tin cậy. Giống như nếu chúng ta theo đúng chỉ dẫn bác sĩ mà uống thuốc thì tình trạng bệnh sẽ cải thiện; lúc này sẽ trực tiếp cảm nhận được tác dụng của thuốc nhưng nếu không kiên trì điều trị thì bệnh tình sẽ tái phát và đau đớn vẫn khó lòng dứt bỏ.
Đối với cảm nhận nên đoạn trừ mọi chấp trước để nhanh chóng tăng trưởng trí huệ; chấp trước vào cảm nhận chính là bị ma quái ám ảnh. Một số người tự xưng đã chứng ngộ thường hỏi Lama Rinpoche: “Ngài có thể xác minh cho đệ tử về cảnh giới chứng ngộ hay không?” Lama Rinpoche nói: “Tôi cũng không rõ cảnh giới chứng ngộ ra sao nhưng bạn có thể hỏi bức tường trong phòng bạn; nếu bạn có thể đi xuyên qua nó thì cảnh giới của bạn còn khá tốt; nếu chỉ làm cho đầu bạn bị sưng lên thôi thì cần phải phân biệt lại cảnh giới của mình.” Năm mươi ma nghiệp mà Kinh Lăng Nghiêm đề cập thực chất hình thành từ việc chấp trước vào các cảnh giới khác nhau của cảm nhận.
Cảm nhận trong quá trình thiền định không đồng nghĩa với chứng ngộ. Số lượng và sự đặc biệt của các trải nghiệm thiền định không phải là tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ trong tu hành; điều quan trọng nằm ở việc phiền não tham sân si trong tâm có giảm bớt hay không và lòng tin cùng lòng từ bi liệu có gia tăng hay không; đó mới chính là tiêu chuẩn để đo lường sự tiến bộ trong tu hành.
Chứng ngộ giống như việc uống thuốc đúng giờ vào thời điểm điều trị tốt nhất để cuối cùng khỏi hẳn mọi cơn đau; ngay tại khoảnh khắc chứng ngộ tính Không có thể tiêu diệt mọi phiền não. Tiêu chuẩn để đo lường chứng ngộ cần quan sát công đức của sự chứng ngộ mà không thể đơn phương đánh giá; chẳng hạn như liệu bạn đã đạt đủ cảnh giới chứng ngộ chưa? Công đức viên mãn ra sao? Cảnh giới khi xuất định thế nào? Cảnh giới khi mơ ra sao? Nếu chỉ sở hữu một loại công đức nào đó thì nó chỉ thuộc về cảm nhận mà không phải chứng ngộ. Vì vậy Lama Rinpoche thường nói: “Đừng coi tri thức thành cảm nhận, đừng coi cảm nhận thành chứng ngộ.”
Vì vậy sau khi phân tích đúng đắn ba cảnh giới tri thức, cảm nhận và chứng ngộ mới có thể tránh xa nhiều trở lực để nhanh chóng giải thoát.