Các hành giả chân chính không gặp phải những vấn đề này.
Mục đích chính của việc tu tập là thay đổi những khái niệm và hành vi sai lầm trong quá khứ, dẫn đến một tư duy và hành động phù hợp với Con Đường Trung Đạo. Điều này cho phép người ta nuôi dưỡng “tâm của Đạo” và “thực hành Đạo,” từ bỏ mọi sự bám víu vào bất kỳ cực đoan nào trong vũ trụ, do đó giúp họ xa rời tất cả những rắc rối tâm lý, ám ảnh và trở ngại. Trọng tâm của việc tu tập là vào “trạng thái tâm trí” và “hành động” của chính mình, chứ không phải vào người khác hay các vị thần.
Không có nơi nào trong vũ trụ mà Đạo không tồn tại; vì vậy, con người nằm trong Đạo, và Đạo nằm trong con người—không thể tách rời khỏi nó ngay cả một khoảnh khắc. Chính vũ trụ cũng là một nơi để thực hành; do đó, thực hành ở bất kỳ đâu cũng không cản trở sự tu dưỡng hay giác ngộ của một người. Sự lựa chọn của một hành giả về nơi hoặc cách thực hành chỉ đơn thuần là một lựa chọn cá nhân dựa trên các hoàn cảnh khác nhau và không có mối quan hệ trực tiếp hay tất yếu nào với khả năng đạt được giác ngộ của họ.
Khả năng đạt được giác ngộ của một hành giả không có mối quan hệ trực tiếp hay tất yếu nào với tôn giáo, kinh điển, giáo lý, dân tộc, giới tính, quốc tịch, văn hóa, niềm tin, màu da, thói quen sống hoặc phương pháp thực hành. Tuy nhiên, nó có liên quan phần nào đến những phẩm chất bẩm sinh (năng lực gốc), sự hiểu biết (trí tuệ) hoặc mức độ bám víu. Những người có năng lực gốc cao hơn và sự hiểu biết mạnh mẽ hơn thường dễ dàng đạt được giác ngộ hơn; ngược lại, những người có năng lực gốc thấp hơn và sự hiểu biết yếu kém thường gặp khó khăn hơn trong việc hiểu được chân lý duy nhất của vũ trụ và do đó phát triển những bám víu mạnh mẽ hơn vào các vật chất và sự kiện—khiến cho họ khó khăn hơn trong việc đạt được giác ngộ.
Vậy “bám víu” nghĩa là gì? Thuật ngữ “bám víu” ám chỉ việc nắm giữ chặt chẽ điều gì đó trong vũ trụ mà không buông bỏ. Còn “dính mắc” thì sao? Dính mắc nghĩa là những điều đó trở nên ô nhiễm hoặc bị cản trở trong lòng mình và không thể loại bỏ. Do đó, “bám víu” có nghĩa là nắm giữ chặt chẽ bất kỳ vật chất hoặc đối tượng nào trong vũ trụ mà không thể hoàn toàn buông bỏ hoặc loại bỏ nó khỏi lòng mình.
Thực hành xuất gia cũng tương tự: Liệu có công đức đặc biệt nào trong “thực hành xuất gia”? Các hành giả cần phải trở thành tăng sĩ để tu tập? Việc chọn nơi thực hành chỉ đơn thuần là một cách trong nhiều lựa chọn cá nhân; điều đó liên quan gì đến công đức? “Công đức” ám chỉ những thành tựu đạt được qua các hành động vật lý trong khi “đức hạnh” ám chỉ đạo đức được nuôi dưỡng bên trong. Nếu các tăng sĩ xuất gia không thiết lập bất kỳ thành tựu nào cả, thì làm sao có công đức?
Sự hiện diện hay thiếu vắng đức hạnh bên trong họ hoàn toàn không liên quan gì đến việc họ có xuất gia hay không; vậy thì công đức từ việc xuất gia đến từ đâu? Khái niệm này phục vụ như một chiến thuật quảng bá khuyến khích các hành giả hướng tới cuộc sống xuất gia—làm sao mà người bình thường lại coi trọng điều này? Có nghiệp liên quan đến “thực hành xuất gia” không? Không nhất thiết; nếu ai đó bước vào đời sống xuất gia vào thời điểm không thích hợp—chẳng hạn như từ một tình huống gia đình không phù hợp hoặc chưa giải quyết trách nhiệm cá nhân—thì việc bước vào đời sống xuất gia thực sự có thể mang theo những trở ngại nghiệp chưa giải quyết.
Cái gì cấu thành “thời điểm không thích hợp cho đời sống xuất gia”? Nếu ai đó muốn trở thành tăng sĩ nhưng gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các thành viên gia đình và bạn bè nhưng vẫn kiên quyết tiến tới—thì thời điểm đó chắc chắn sẽ là không thích hợp. Nhưng liệu việc chọn theo đuổi đời sống xuất gia có phải là tự do cá nhân? Tại sao nó lại cần sự đồng ý của người khác?
Không phải vấn đề cần đồng ý từ người khác mà đúng hơn là những người phản đối quyết định của họ vẫn còn những ràng buộc nghiệp chưa giải quyết với họ—ví dụ: nếu họ đã kết hôn hoặc có con cái nhưng bỏ bê trách nhiệm vì đời sống xuất gia—điều đó liệu có phù hợp? Nếu cha mẹ già cô đơn hoặc ốm đau mà thiếu chăm sóc—liệu ai có thể rời nhà để tu tập dưới hoàn cảnh như vậy? Thì đây chắc chắn sẽ là thời điểm không thích hợp.
Khi chúng ta nói “các ràng buộc nghiệp vẫn chưa được giải quyết” nghĩa là gì? Các món nợ nghiệp giữa hai bên tích lũy qua nhiều kiếp chỉ được coi là đã giải quyết khi cả hai bên đều mang “không oán hận.” Điều này cho thấy rằng các món nợ nghiệp của họ đã được thanh toán; do đó chúng ta gọi đây là “nghiệp đã giải quyết.” Tuy nhiên nếu chúng chưa được thanh toán thì chúng ta gọi chúng là “nghiệp chưa giải quyết.” Làm thế nào chúng ta biết liệu các ràng buộc nghiệp với người khác đã được giải quyết?
Điều này khá đơn giản: nếu một người chẳng mang tình yêu hay thù hận đối với một người khác—hoặc ngược lại—điều này cho thấy rằng các ràng buộc nghiệp của họ đã được giải quyết. Nếu ngay cả một dấu hiệu nhỏ tình cảm còn lại—a hint of sentimentality—or some bitterness exists—it signifies that their karmic debts remain unfulfilled; hence unresolved karma persists.
Tại sao? Bởi vì nếu giữa hai cá nhân còn tồn tại ngay cả một chút tình cảm—dù tình yêu nảy sinh mới hay thù hận kéo dài—điều này hàm ý rằng các món nợ nghiệp của họ vẫn chưa được thanh toán. Những cảm xúc như vậy có thể kích thích cảm giác như lửa yêu thương, ham muốn và giận dữ giữa cả hai bên báo hiệu khả năng phát triển tương lai thành những câu chuyện mới đầy tình cảm và thù oán—which could lead both back into cycles of reincarnation paying off these debts—thus indicating unresolved karma exists between them.
Các cảm xúc đã đề cập trước đây—including affection and hatred—not only pertain strictly between lovers or spouses but also encompass relationships involving parents/elders/siblings/friends/classmates/co-workers… etc., all count as tangible creditors owed karmically either seeking repayment for past debts owed by us—or coming forth out of gratitude seeking balance—all vary widely! Therefore if karmas remain unpaid then pursuing monastic life becomes inappropriate because even after attaining liberation through spiritual insight post-monastery existence still necessitates returning into worldly realms resolving these outstanding karmas! Hence why not resolve these issues first before entering monkhood?
Tại sao đặt ra câu hỏi này? Bởi vì đạt được trí tuệ tâm linh hoàn toàn không liên quan trực tiếp đến việc trở thành tăng sĩ hay thực hiện các phương pháp cư sĩ! Vậy tại sao lại khăng khăng theo đuổi cuộc sống xuất gia cụ thể? Người cư sĩ cũng hoàn toàn có thể giải quyết triệt để mọi việc trên cõi đời đồng thời đạt được trí tuệ tâm linh dẫn đến cuối cùng hướng tới sự giải thoát! Vậy tại sao chỉ bám víu vào việc trở thành tăng sĩ?
Siddhartha Gautama đã đạt được giác ngộ khi vẫn đang sống giữa cuộc đời! Sau khi đạt nhận thức ông đã giảng dạy ở nhiều vùng đất suốt bốn mươi chín năm giữa cuộc sống thế tục! Liệu Lão Tử cũng đạt được trí tuệ thông qua việc trở thành tăng sĩ ư? Vì vậy theo đuổi cuộc sống tăng sĩ chẳng phải chỉ đơn thuần về ‘tốt’ so với ‘xấu’ mà đúng hơn về ‘điều kiện đủ’ so với ‘điều kiện thiếu.’ Khi điều kiện phù hợp mong muốn làm tăng dẫn dắt tự nhiên tới con đường ấy còn bám víu vào liệu mình nên theo con đường này phản ánh tư tưởng con người bình thường gây ra lo âu & cản trở! Trên thực tế các hành giả chân chính chẳng lo lắng về việc liệu họ nên theo hình thức nào vì tính bao la bao gồm mọi nơi cho phép tu tập ở bất cứ đâu!
Kế tiếp bàn luận về các giáo phái tôn giáo giữa 84 nghìn phương pháp & 3600 con đường phù hợp nhất dành cho các hành giả: Nếu gốc rễ sâu sắc & trí tuệ cao thì chắc chắn bất kỳ giáo phái nào cũng sẽ đủ tốt đúng chứ?! Ngược lại tuy nhiên nếu gốc nông & trí tuệ thấp thì giáo phái nào sẽ phù hợp với chúng ta?!
Điều này tiết lộ rằng tính phù hợp nằm căn bản ở chính bản thân chúng ta liên quan đến độ sâu & chất lượng về bản chất bẩm sinh thay vì liên kết trực tiếp cụ thể gắn liền riêng biệt với từng giáo phái tôn giáo (ngoài ra lý do khác liên quan đến nguồn tài nguyên tâm linh hướng dẫn trực giác giúp tìm kiếm lựa chọn con đường phù hợp!).
Tại sao nói như vậy? Bởi vì hiện nay mọi con đường tôn giáo trên thế giới đều bắt nguồn từ cơ sở nhân loại qua ba thiên niên kỷ vừa qua nhưng Siddhartha Gautama & Lão Tử đều đã đạt nhận thức trước khi tạo ra điều ấy vậy hãy nói tôi nghe cụ thể giáo phái nào mà họ theo dõi dẫn tới nhận thức?
Nếu chúng ta để bản thân bị cuốn vào suy nghĩ xem địa điểm nào cung cấp cơ hội tu tập tốt nhất—we’re simply self-inflicting unnecessary turmoil upon ourselves! Thực tế rộng lớn chẳng hạn chế nơi đâu tồn tại con đường hay nơi đâu diễn ra quá trình tu tập do đó khăng khăng vào từng con đường tôn giáo cụ thể tiết lộ sự ngu dốt!
Một số loại thường tin tưởng mãnh liệt tham gia nghiêm túc đọc kinh/cúi đầu trước thần thánh/thực hiện thiện nguyện/donating funds supporting teachers/publishing sacred texts…etc., nhưng tự hỏi tại sao tình hình xung quanh vấn đề cá nhân như nghề nghiệp/tương lai/hôn nhân/sức khỏe dường như thiếu phước báu thiêng liêng khiến suy nghĩ nghi vấn hiệu quả phía sau những hoạt động ấy gợi ý rằng tốt nhất nên tránh lãng phí thời gian quý giá!
Hiện tượng này mang duy nhất câu trả lời mở khóa nhầm lẫn: Họ chẳng thật sự đang thực hành (ps: kịch bản khác xảy ra dù cố gắng hết sức tham dự tụng chú/ngồi yên…etc., khó khăn kinh tế phát sinh gây nghi vấn về độ đúng sai phía sau lựa chọn đang đi liệu tiếp tục nữa?).
Thực tế chi tiết bị bỏ quên thường bao gồm cản trở phát sinh từ nghiệp quá khứ! Trong số cư dân mạng ba trường hợp nổi lên tiết lộ cách thức gánh nặng tích tụ từ kiếp trước cản trở tiến trình trên mỗi chuyến đi tương ứng! Dĩ nhiên đây thuộc riêng từng trường hợp cá nhân—not everyone experiences identical phenomena.)
Điều này xảy ra do hiểu sai về đọc kinh/cúi đầu trước thần thánh/hành thiện/tham dự thiện nguyện/donating funds supporting teachers/publishing sacred texts…etc., hoạt động bình thường bị nhầm tưởng thành cố gắng tinh thần chân chính thất bại chuyển hóa niềm tin/hành động sai lệch trước đây nhờ nuôi dưỡng tư duy/hành động trung đạo thay vì chú trọng nuôi dưỡng trái tim/spirituality—a common pitfall many encounter!
Mục tiêu phía sau quá trình nuôi dưỡng chẳng nhằm tìm kiếm ‘có,’ mà đúng hơn quay về ‘hư vô.’ Phật Giáo dạy nguyên lý giải thoát thúc giục mỗi cá nhân nhìn rõ grasping truths underlying existence ultimately releasing attachments surrounding illusions perceived throughout worldly affairs arising due interdependent causes leading suffering resolution requires dissolving illusions creating pain seeds sprouting forth numerous troubles!
Nếu nguyên nhân đau thương chẳng bị xóa bỏ tự nhiên hậu quả phải chịu đau thương chủ yếu bắt nguồn từ khả năng nhìn nhận rõ grasping truths underlying existence failing release attachments surrounding illusions prompting feelings anguish hence why wouldn’t reflect critically examine oneself diligently investing effort cultivating instead blaming lack divine blessings received?!
Một hành giả chân chính cần sở hữu nhận thức chính xác:
Không phàn nàn khi học/tập luyện; Không chỉ trích khi nuôi dưỡng;
Không tính toán khi thực hiện thật sự; Thống nhất tránh tranh luận!
Một số tin rằng hội tụ phục vụ mục tiêu vượt lên trên hữu thể tuy nhiên ý nghĩa thật sự đứng sau ‘vượt lên’ nằm ở freeing each sentient heart burdened ignorance afflictions calming turbulent thoughts surrounding birth-death cycles thereby expanding beyond self-centered desires encompassing greater humanity praying blessings upon all beings believing gatherings yield remarkable benefits benefiting both realms alike thus every session participants express gratitude sincerity purity intentions performing rituals reciting scriptures bowing seeking forgiveness offering generosity cultivating merits ultimately dedicating accomplishments accrued back towards ancestral grievances along myriad sentient beings across ten directions!
Nếu ‘vượt lên’ thật sự nghĩa như thế này ư? Thực tế ‘vượt lên’ biểu thị vượt khỏi trạng thái sinh tử còn ‘giải thoát’ hàm ý freeing oneself escaping cyclical suffering inherent therein—that encapsulates essence behind ‘transcendence.’ Do vậy vượt lên bao gồm liberating spirits deceased alongside living ones since Buddha’s teachings inherently aim liberate sentient beings themselves!
Cái gì cấu thành ‘vượt qua’? Vượt qua phục vụ biểu tượng ẩn dụ whereby souls transition through teachings imparted via scriptures guiding minds navigating turbulent seas arriving shores wisdom awakening (scriptures embody teachings passed down by divine sages enabling adept seekers discover profound truths!).
<
……..