Tại sao tu hành cần phải loại bỏ tâm tư và dục vọng cá nhân?

Tại sao tu hành cần phải loại bỏ lòng tham và dục vọng cá nhân?

Một người không thể tự kiểm soát cảm xúc của mình, để đạt được sự bình yên trong tâm hồn, thì phải loại bỏ lòng tham và thành kiến, mọi việc nên suy nghĩ theo hướng tích cực, đừng để sự ngu muội dẫn dắt mà sa vào những điều vụn vặt, đổ lỗi cho người khác, bề ngoài giả vờ như không có chuyện gì nhưng thực chất đã không còn khác gì với người bình thường.

Khi xử lý công việc bằng tâm lý con người và dục vọng cá nhân, những gì quan sát được chỉ là bề ngoài của vạn vật mà thôi. Cần biết rằng tâm lý của chúng sinh thường là: “phân biệt, đối đãi, chê bai”, nói năng chua ngoa cay độc, chỉ chăm chăm vào “những khuyết điểm nhỏ nhặt” của người khác. Nếu có tâm lý như vậy thì nhất định phải điều chỉnh lại.

Tu hành là để loại bỏ cái “tôi có dục vọng”, thông qua sự thanh tẩy mà phục hồi “cái tôi chân thật” (chân ngã). Chân ngã tức là bản tính thiên nhiên, thuần thiện vô ác, có thể xua tan mọi sự quấy rầy của dục vọng! Người tu hành chủ yếu là loại bỏ dục vọng cá nhân, càng tu càng trở nên vô ngã,

cho đến khi hoàn toàn không còn bám víu vào cái tôi và không nghĩ cho bản thân nữa; không còn bám víu vào cái tôi thì sẽ dừng lại những ảo tưởng; không phải càng tu càng vì cái tôi mà suy nghĩ cho bản thân mình trong tính toán và toan tính; bám víu vào cái tôi chính là tư lợi;

bám víu vào cái tôi tức là bám víu vào sự riêng tư. Tu mà vẫn bám víu vào cái tôi thì sai lầm! Đây là biểu hiện cơ bản của tâm con người, cũng là sự nhầm lẫn lớn nhất của người tu hành, cần phải ngay lập tức sửa chữa lại; đúng như câu nói: “Tâm con người không chết thì đạo tâm không sinh”.

Tâm chúng ta giống như một con thú dữ, luôn luôn bất an và lo âu, những ý niệm trong lòng chưa bao giờ ngừng lại, suy nghĩ luôn luôn rối ren. Nếu muốn đạt được sự bình yên trong tâm hồn thì cần phải thường xuyên giữ tỉnh thức, rèn luyện tâm mình để nhận biết từng khoảnh khắc sinh diệt.

Không bị ý niệm sai lầm chi phối, đừng đi theo cảm giác bên ngoài; học cách quản lý trái tim của mình; cố gắng hướng nội để an trú và quan sát trái tim xem nó có nhẹ nhàng hay không? Có duy trì trong trạng thái nhẹ nhàng hay không? Đừng để cảm xúc yêu ghét chi phối.

Cảm xúc yêu ghét đan xen sẽ khiến chúng ta mãi mãi bất ổn định. Vì vậy cần giảm thiểu các dục vọng để trái tim an trú trong cuộc sống trung đạo. Khi đó chúng ta chính là chủ nhân cuộc đời mình.

Vì vậy khi gặp kẻ thù gây hại hoặc chịu đựng thất bại lớn lao nào đó thì tuyệt đối đừng chỉ trích lỗi lầm lên người khác. Khi chúng ta hiểu rõ nguyên tắc nhân quả không sai lệch thì sẽ dễ dàng và tự tại đối diện với những điều bất thuận trong cuộc sống này!

Buông bỏ lòng tham và dục vọng cá nhân mới có thể hòa nhập vào việc tu hành vô vi. Cần biết rằng: “Trời đất vô dục nên tồn tại lâu dài”. Con người vì nhiều dục vọng và ý niệm nên đời sống trở nên ngắn ngủi; lúc nào cũng có thể chết oan uổng dưới ảnh hưởng của “dục niệm” và “tham cầu”.

Khi trong lòng có – lòng tham lam thì hãy triệt tiêu nó đi; khi oán hận bất bình hãy đoạn tuyệt nó đi; nếu tư tưởng con người không thuần khiết thì hành vi tự nhiên cũng sẽ lệch lạc. Nếu không thể thay đổi và chỉnh sửa thì sẽ phát sinh nhiều khổ đau.

Cái đáng sợ nhất trong tu hành chính là – “những tư tưởng xấu chiếm trọn khoảng trống tâm hồn”, nếu như vậy làm sao mà trong lòng có đạo được? “Ruộng tâm không sinh cỏ ngu si, vườn giác thường nở hoa trí tuệ”. Nếu trạng thái tinh thần luôn giữ được thanh tịnh sạch sẽ; nếu có thể giác ngộ bản tính vốn có của mọi người mới có thể biểu hiện ra trí tuệ viên mãn.

Cái đáng sợ nhất trong tu hành chính là: “Chỉ chăm chăm nhổ cỏ dại ở ruộng tâm của người khác nhưng ruộng tâm mình lại đầy cỏ dại”.

Tu ở nơi chính trái tim mình; trái tim này rất quan trọng vì nó chủ quản cả thân thể. Do đó cần phải khơi dậy bản tính thiên nhiên cùng chân thành bên trong mỗi con người để trở thành thiện lương yêu thương duy nhất. Giữ lấy thiện lương yêu thương mà tu dưỡng sẽ vượt qua mọi rào cản giữa vật chất và tinh thần hơn nữa cần phải rèn luyện linh minh (trí huệ) của chính mình mới giải thoát được mọi chướng ngại,

mới có thể xua tan mọi loạn động bên trong lẫn bên ngoài; ma quấy cũng chẳng sợ hãi gì cả! Sự vô sợ hoàn toàn phụ thuộc vào việc xác nhận linh minh (trí huệ) nơi bản thân mình. Linh minh (trí huệ) như ngọn đèn soi sáng phân biệt đúng sai rõ ràng; từ đó xua tan ảo tưởng về thanh tịnh bằng cách tìm kiếm sự yên tĩnh thông qua thiền định,

thông qua thiền định mở ra đôi mắt trí huệ; thông qua tập trung phát sinh trí huệ; thông qua trí huệ nỗ lực tiến bộ mạnh mẽ hơn nữa thông qua tiến bộ để loại bỏ dục vọng cá nhân. Nếu thực sự giảm thiểu lòng tham cùng dục vọng cá nhân thì hãy giữ trái tim ở trạng thái “không thiên lệch” giữa suy nghĩ trung đạo nhằm hòa hợp với “tâm ý chân thành”.

Xả thân phục vụ bằng đức độ để cảm hóa mọi người; đức độ ở nơi thấp kém – càng khiêm tốn thấp bé bao nhiêu lại càng khiến mọi người kính trọng bấy nhiêu. Đức độ ở nơi vô tư – biết nhường công nhận lỗi về phía mình.

Tu hành chỉ có “biết lỗi, thừa nhận lỗi lầm rồi sửa đổi mới tăng trưởng trí huệ căn thiện”, “thấy được trái tim của người khác chưa quan trọng bằng thấy rõ nội tâm mình đang chứa đựng điều gì mới quan trọng”, dùng một trái tim đơn giản vui vẻ để hoàn thiện tất cả những gì xung quanh bạn.

Gặp gỡ con người – quay về tự phản tỉnh.
Gặp gỡ con người – quay về tự kỷ luật.
Gặp gỡ con người – quay về tự cảnh giác.

Sự trưởng thành của một người tu hành cần trải qua vô số lần thử thách mới trưởng thành từng chút một. Vì vậy một người hiểu biết về việc tu hành thì đừng quá bám víu vào ngoại cảnh mà hãy thể hiện khả năng bao dung của bạn giống như biển cả tiếp nhận hàng trăm dòng sông – lớn bởi vì rộng lượng – mang đến niềm vui cho mọi người tạo điều kiện thuận lợi cho họ.

Mở cửa trái tim ra để biểu hiện ra Bồ Tát Tâm vốn có nơi mỗi chúng ta. Bồ Tát Tâm “giống như ánh trăng dịu dàng mát mẻ”, sẽ chẳng khiến ai cảm thấy áp lực nhưng lại mang đến cho mọi người cảm giác gần gũi và từ bi vô hạn. Chúng sinh do mê muội cùng chấp trước nên mãi chìm sâu dưới biển khổ sinh tử vì thế chỉ học cách buông bỏ mới phá vỡ được chướng ngại tinh thần.

Cần biết rằng tư tưởng con người, cảm xúc tình cảm cùng quá trình sống đều phản ánh từ tận đáy lòng ra ngoài nên Thiền Tông nói rằng: “Vạn pháp chỉ do tâm”. Điều này nghĩa là phải thông qua việc tu tập tĩnh tọa thiền định nhằm khai mở tự tính (linh tính) mới làm cho tinh thần thanh tịnh cân bằng rồi từ đó khai mở ánh sáng cùng trí huệ!

by-Phượng Hoàng Sơn Mạch Từ Hoàng Cung

Để lại một bình luận