So sánh giữa Mật Tông Khí Công và Đạo Gia Khí Công!

Sự so sánh giữa khí công Mật Tông và khí công Đạo Gia!

Mật Tông thuộc về một nhánh của Phật Giáo, so với các nhánh khác như Tịnh Độ, Hoa Nghiêm, Thiền Tông, thì Mật Tông dựa vào ba bí mật thân, khẩu, ý làm nguyên tắc chính, từ đó hình thành nên nhiều phương pháp tu luyện sâu sắc và bí ẩn.

Phật Giáo hiển giáo ngoài việc sử dụng thiền định làm nguyên tắc chính thì các phương pháp tu tập khác khá ít. Đối với mục tiêu mà Phật Giáo theo đuổi – chứng ngộ chân như tự tính – hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ trí tuệ và sự thấu hiểu của người học. Rõ ràng là không giống như Mật Tông có hiệu quả từng bước một cách thực tế và có thể thao tác được.

Vào khoảng hai ngàn năm trước trong lịch sử nước ta, đã xuất hiện các phái Đạo đầu tiên như Phương Tiên Đạo và Hoàng Lão Đạo, sau này kết hợp với giáo lý phù thủy nguyên thủy để hình thành Đạo Giáo thời kỳ đầu ở nước ta; chẳng hạn như Hoàng Trung Thái Bình Đạo của Trương Giác và Ngũ Đấu Mi Đạo của Trương Lăng.

Tuy nhiên, điều nổi bật nhất và thu hút nhất trong Đạo Giáo là phái Nội Đan phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Liêu Kim, còn được gọi là phái Kim Đan. Nội Đan chú trọng vào việc tu luyện tinh khí thần bên trong cơ thể, thông qua việc luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần và luyện thần hoàn hư để đạt được hiệu quả trường sinh bất lão.

Khi Mật Pháp dần dần truyền vào Trung Nguyên, mọi người đều ngạc nhiên phát hiện ra rằng phương pháp công năng của Mật Tông và phương pháp của Đạo Gia có sự tương đồng rất lớn.

Mật Tông tu luyện ba mạch trái phải giữa; còn Đạo Gia tu luyện hai mạch Nhâm và Đốc; Mật Tông tu bảy luân xa; còn Đạo Gia tu ba đan điền; Mật Tông tu Bảo Bình Khí; còn Đạo Gia có Thai Hơi; Mật Tông tu Linh Nhiệt. Nhìn từ kết quả tu luyện mà nói, Đạo Gia theo đuổi Tam Thanh (Ba Sạch), còn Mật Tông theo đuổi Niết Bàn (Nirvana), đều là những cảnh giới tinh thần và vật chất cực cao.

Để so sánh chi tiết hơn giữa hai phương pháp công năng của Mật và Đạo, chúng ta sẽ bắt đầu từ các phương pháp cụ thể nhằm khám phá những chân lý nội tại ẩn chứa trong các hình thức khác nhau.

1. Thân

Thân mật là một trong ba bí mật của Mật Tông có quy định rất nghiêm ngặt.

Cách kết ấn tay là một trong những phương pháp chính của thân mật. Người học sẽ kết hợp lòng bàn tay và các ngón tay thành nhiều hình dạng khác nhau để đại diện cho các công pháp và chức năng khác nhau.

Từ ngón út đến ngón cái sẽ đại diện cho “Đất, Nước, Lửa, Không gian, Gió”, tay trái tượng trưng cho định (tĩnh), tay phải tượng trưng cho trí (khôn ngoan); khi thực hành pháp bản tôn thì yêu cầu người học phải hòa làm một với vị Phật mà mình chọn lựa. Khi tu tập cũng cần phải kết ấn tay của bản tôn Phật. Ví dụ như Đức Thích Ca Mâu Ni khi kết ấn “Thiện Vô Úy” bằng tay phải thì cánh tay bên phải cong lại với lòng bàn tay mở ra trước ngực; tay trái mở ra với lòng bàn tay hướng lên trên đặt trên đầu gối tức là ấn “Nguyện”.

Khi thực hành đạo gia cũng cần phải kết ấn tay – trong bước đi trên đường đạo gia thì hai tay cũng cần phải tạo ra các ấn như Kiếm Quyết (điều khiển kiếm), Sấm Quyết (điều khiển sấm), Đồng Quyết (điều khiển sao).

Xét về nguyên lý nội tại thì mười ngón tay hai bàn tay giao tiếp với chức năng vô tận của vũ trụ giúp người tập liên tục nhận thông tin lớn từ vũ trụ trong quá trình tu tập để nâng cao sức mạnh không ngừng.

Xét về tư thế cơ thể thì cách ngồi bảy nhánh của Bi Lu Chí Na gần giống với cách ngồi năm tâm hướng trời của đạo gia. Yêu cầu đối với từng bộ phận cơ thể cũng tương tự nhau: cả hai đều bắt chéo chân lại với nhau ở dưới đất; hai bàn tay tạo ấn đặt trước bụng; cột sống thẳng đứng; mắt nhìn xuống hoặc khép lại nghe tiếng bên ngoài; lưỡi chạm lên vòm miệng trên.

Cơ chế nội tại ở đây là: đôi chân bắt chéo giúp khí hạ xuống vùng đan điền; hai bàn tay tạo ấn giúp khí huyết bên trái bên phải lưu thông thông suốt; cột sống thẳng đứng giúp cho nội tạng bên trong thẳng đứng hạ xuống mà khí dễ dàng lưu thông hơn. Lưỡi chạm lên vòm miệng sinh ra nước bọt hỗ trợ tiêu hóa dạ dày ruột. Cách nhìn xuống hoặc khép mắt giúp tâm trí tập trung vào bên trong không bị phân tâm hay u mê – tất cả đều có lý do nội tại riêng biệt.

2. Khẩu

Khẩu mật là một trong ba bí mật của Mật Tông tương tự như câu chú trong công pháp đạo gia. Ngày nay những người tập khí công gọi nó là âm thanh đặc biệt – chỉ việc người học niệm những âm thanh cụ thể để đạt được mục tiêu tương ứng trong quá trình luyện công.

Các loại chân ngôn trong phương pháp công năng mật rất phong phú đa dạng: ví dụ như bốn loại chân ngôn thế gian chia thành: thứ nhất là Chân Ngôn Diệt Trừ bắt đầu bằng chữ “Om” kết thúc bằng “Saha”; thứ hai là Chân Ngôn Hạ Phục thứ ba là Chân Ngôn Tam Tăng Ích. Còn câu chú nổi tiếng “Om Mani Padme Hum” đã trở nên quen thuộc khắp nơi ở nước ta rồi.

Cách niệm chú cũng rất được coi trọng trong công phái đạo gia – sách “Thần Công Vạn Pháp” ghi lại câu “Ngũ Phương Thần Chú”. Nếu phân tích kỹ lưỡng câu chú này sẽ thấy vừa có âm tiết đặc biệt “Om” vừa chứa đựng những ký tự mang ý nghĩa nhất định – đây chính là chân ngôn mang đặc trưng văn hóa Trung Hoa.

Về phần câu chú gồm chín chữ “Những ai chiến đấu đều xếp hàng trước” ghi lại bởi tác giả Cát Hồng thời Đông Jin đã truyền sang Nhật Bản hình thành nên “Chín Hội Mandala” nổi tiếng ở Đông Nhật Bản đã càng chứng minh sự tương đồng giữa câu chú đạo giáo và mật giáo.

Cách niệm chân ngôn cần cụ thể hóa: Có những câu chân ngôn phát ra âm thanh mà người khác nghe thấy được; có những câu phát ra âm thanh mà tai mình nghe thấy được; có những câu phát ra âm thanh bằng lưỡi niệm hay chỉ đơn giản nghĩ đến thôi – tất cả đều liên quan chặt chẽ đến bản thân phương pháp ấy.

Các âm thanh khi niệm chân ngôn cũng rất đa dạng: Có âm thanh nhẹ nhàng hài hòa đầy nhịp điệu; Có âm thanh vừa đủ rõ ràng từng chữ từng lời; Có âm thanh dịu dàng liên tục không dứt quãng; Có âm thanh quyết đoán mạnh mẽ như dao cắt vật gì đó; Có cả những tiếng gầm vang uy nghiêm dữ dội nữa!

Về phần sự huyền diệu nội tại của chân ngôn khiến mọi người cảm thấy vô cùng sâu sắc ý nghĩa vô tận. Ai cũng biết ca sĩ nổi tiếng Caruso có thể dùng giọng hát làm vỡ ly thủy tinh – còn sóng siêu âm hiện nay đang hiểu rõ về cường độ rung động mạnh mẽ đến đâu!

Như con người có thể dùng giọng nói gây ra tuyết lở vậy – người thực hành môn mật hoặc đạo thông qua việc phát ra âm thanh đặc biệt gây cộng hưởng “trường” với thiên nhiên vũ trụ từ đó dẫn đến trường bên trong cơ thể họ bị tăng cường đáng kể bởi trường mạnh từ vũ trụ cuối cùng dẫn tới việc họ phát triển khả năng phi thường khó tin!

3. Ý

Bí mật ý chính là phần quan trọng nhất nằm ở giữa ba bí mật này gọi chung là “quán tưởng”. ‘Khả năng quán tưởng của Mật Tông liên quan đến độ sâu sắc nghiệp chướng’ ‘Cảm nhận tính không càng nhiều càng dễ quán tưởng rõ ràng – Một người càng cố chấp say mê vào thế tục thì nghiệp chướng càng nặng nề tự nhiên sẽ không nghĩ tới việc hành trì hay suy nghĩ thêm về cách thức hành trì.’

Mạt môn Đại Viên Mãn cũng nhấn mạnh rằng không quán tưởng bản tôn không giữ gìn chú văn giống như Thiền tông trực tiếp nhập vào Pháp tính nhưng nếu không có nền tảng trước đó thì muốn trực tiếp đạt Đại Viên Mãn thật sự rất khó khăn vì vậy chỉ trích rằng quán tưởng ở Mạt môn chỉ đơn thuần mang tính cố chấp thật sự hơi thiên lệch – điều này phụ thuộc vào căn cơ mỗi cá nhân cùng cấp độ hành trì khác nhau không thể chỉ nhìn thấy một phần nào đó mà đánh giá tổng quát toàn bộ phương pháp ấy được!

Cách thức quán tưởng theo phong cách đạo gia gọi chung là “Tồn tư thuật”, bao gồm nhiều phương thức đa dạng: Có tâm trai (tĩnh tâm), tọa vọng (quên mình), giữ gìn thần (bảo vệ tinh thần), dưỡng thần (nuôi dưỡng tinh thần), giữ một (giữ tâm đơn giản), nội quan (nhìn sâu vào bản thân), tồn tư (giữ tư duy)…

Tinh khí thần chính yếu tố cấu thành Nội đan học bao gồm xây dựng nền móng lấy thuốc hái thuốc nấu lò lửa… Xây dựng nền móng tức bước đầu tiên khi thực hành đạo gia giống như xây nhà vậy trước tiên cần xây dựng nền móng tốt mới hoàn thiện được nhà cửa vì vậy gọi nó là “Xây dựng nền móng”.

Nền móng kiên cố mới xây dựng nhà cửa chắc chắn cao lớn ví dụ cho Dan Công trước tiên cần củng cố thân xác mình đầy đủ nguồn gốc sau đó mới tiến tới tầng sâu hơn mới đảm bảo đủ điều kiện vì vậy kỹ thuật xây dựng nền móng cực kỳ quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến cấp độ chứng nghiệm sau này rất quan trọng kỹ thuật xây dựng nền móng thường nói rằng “Một trăm ngày xây dựng nền móng”, “Một trăm ngày linh nghiệm”. 

Nghĩa rằng cần một khoảng thời gian khoảng một trăm ngày mới hoàn thành kỹ thuật xây dựng nền móng nhưng chỉ áp dụng cho tình huống bình thường thôi tùy thuộc vào sức khỏe mỗi cá nhân cùng khả năng hiểu biết cùng môi trường đối với mỗi cá nhân học hỏi con đường vì vậy xét về mặt thực tiễn tiến hành kỹ thuật xây dựng nền móng này mất khoảng thời gian một trăm ngày làm chuẩn nếu đạt hiệu quả mong muốn về việc xây dựng nền móng… tất cả phụ thuộc vào lòng kiên trì và nghị lực của người thực hành! 

Các kỹ thuật Dan Dao phục vụ cho việc rèn luyện nhưng không phải chỉ đơn thuần yên tĩnh bỏ mặc thế giới xung quanh vì Dan Dao yêu cầu tâm trí yên bình mới sản sinh ánh sáng trở lại sau đó trải qua nhiệt độ nuôi dưỡng lần thứ hai ánh sáng trở lại mới sản sinh trí huệ! Và trí huệ này còn cần trải qua tôi luyện mới trở nên viên mãn! </ p >

Và kỹ thuật song tu Sinh-Mệnh tức con người từ đầu tới cuối đều chú trọng giữ gìn ý thức đồng thời quy định cực kỳ nghiêm khắc về mức độ ưu tiên! 

Xem xét tổng quát giữa các phương pháp công năng của Mật giáo và Dao giáo cho thấy cả hai hệ thống đều có sự tương đồng lớn lao đáng kể! 

Mật giáo thông qua việc rèn luyện ba bí mật thân khẩu ý để tiến nhập Samadhi(Thiền định) rồi từ đó nhận thức được bản chất thật sự ‘Pháp tính’ ; Dao giáo lại chú trọng đến việc rèn luyện nghiêm túc hệ thống từng lớp đối với Ba bảo vật tinh-khí-thần ~ Xây dựng nền móng , Kết thai thánh , Dưỡng thai nguyên , rồi xuất hiện Dương Thần cuối cùng thân ngoài thân , hư không tan biến đạt cảnh giới Không Hình Thực Hình tuyệt diệu ! 

Hai hệ thống công năng này ánh sáng rực rỡ phản chiếu giữa thế giới khí công hôm nay , Là những người kế thừa văn hóa truyền thống chúng ta có trách nhiệm phát huy rộng rãi ! 

Tâm an ổn ngoại cảnh hỗn loạn,
Tâm bình yên giữa náo nhiệt tìm kiếm an ổn 

“Kinh Thanh Tịnh”là một trong bốn kinh điển lớn nhất thuộc dòng Toàn Chân Dao phản ánh bao hàm các giáo lý cơ bản cùng nhiều loại hình thức rèn luyện . Trong kinh viết rằng :“Thanh tịnh chính nguồn gốc ô nhiễm , động chính căn cứ yên tĩnh . Người nào luôn luôn giữ gìn trạng thái thanh tịnh , trời đất sẽ quay về . Con người vốn thích sạch sẽ nhưng bị phiền não khuấy động ; con tim thích yên bình nhưng bị dục vọng kéo kéo . Nếu thường xuyên xua tan dục vọng thì tâm tự nhiên an ổn ; nếu làm sạch lòng mình thì linh hồn tự nhiên trở nên thanh thoát . </ p >

Tự nhiên sáu dục vọng không sinh trưởng , tam độc tiêu diệt . Do đó cái bất khả tri chính do lòng chưa sạch , dục chưa xua tan.” Kinh Thanh tịnh đề cập rằng lý do con người chưa đạt được chân lý bởi vì con người tồn tại suy nghĩ sai lệch tham lam tranh đấu do đó phiền não sinh trưởng khiến cho đường chân lý bị sa sút . Nếu một cá nhân thường xuyên để tâm trí xoay quanh vật chất , linh hồn phục vụ theo tâm trí khiến cho tâm linh khó mà an ổn dù đang ở nơi yên tĩnh vẫn khó mà an tọa . 

Hành trình tìm kiếm chân lý bao gồm cả nội lực ngoại lực thiếu sót điều nào cũng không được.
Nội lực sửa đổi số phận , ngoại lực tích thiện tích đức giữ gìn trái tim ít ham muốn ! 

Thanh tịnh làm phẩm hạnh , luật đạo làm chân lý , khí hòa thuận lí đúng,
Luyện khí luyện đan vô sợ vô vi,
Lòng chí thành chí kính nuôi dưỡng bên trong,
Dùng phẩm hạnh sửa đổi trung dung,
Rèn luyện bản chất riêng mình đạt phẩm hạnh tối cao tối thật, phẩm hạnh viên mãn . </ P >