Tu Hành Thực Tại và Tu Hành Biểu Hiện

Hành trình tu tập thực tại và hành trình tu tập bề ngoài

Trước đây đã từng đề cập đến “Tu tập ẩn sâu”, vậy tu tập ẩn sâu là gì? Bất kể tôn giáo nào cũng có thể thực hiện tu tập ẩn sâu, tức là “Thanh mệnh cốt”, thanh lọc linh thể, khí linh, linh hồn của chính chúng ta, để cho linh thể được sạch sẽ, không ô nhiễm và không có tà khí,

Con người ăn ngũ cốc và thực phẩm hỗn hợp thỉnh thoảng sẽ ăn phải thức ăn không tươi ngon hoặc có độc tố, cần phải thông qua việc vận động ra mồ hôi, uống nhiều nước để thải độc qua nước tiểu, ngồi thiền thanh lọc tâm hồn, lắng đọng tâm tư, tiếp nhận năng lượng vũ trụ để rửa sạch và giải phóng năng lượng tiêu cực ~

Để đạt được sự thanh lọc đồng bộ giữa thân, tâm và linh hồn; nếu có thể tận dụng thêm thời gian rảnh để đọc những kinh điển Phật học, Đạo học đã được chứng đạo từ các bậc thầy thiện tri thức thì sẽ giúp nâng cao sự đồng bộ giữa thân, tâm và linh hồn!

Không biết liệu bạn đã đi trên con đường thăng hoa chưa? Hãy tự hỏi bản thân ~ hỏi “Chân ngã” bên trong bạn: Con đường tu tập trong đời này có đúng hay không? Mỗi người trong chúng ta trước khi đầu thai chuyển kiếp đã có một kế hoạch sinh mệnh trước khi đầu thai gọi là “Mệnh bàn”,

Và bộ mệnh bàn này chính là bản thân ở kiếp trước, sử dụng một đời làm cơ sở để viết nên tương lai của mình – “Đề thi”, trong kiếp này sẽ đối mặt với bài học và đề thi như thế nào? Nói như vậy có chút mơ hồ, hãy nói theo cách khác: “Muốn biết nguyên nhân ở kiếp trước, người chịu đựng ở kiếp này; muốn biết quả báo ở kiếp sau, người tạo ra ở kiếp này”.

Câu nói: “Muốn biết nguyên nhân ở kiếp trước, người chịu đựng ở kiếp này; muốn biết quả báo ở kiếp sau, người tạo ra ở kiếp này” mang ý nghĩa rằng mọi trải nghiệm trong cuộc sống hiện tại của một người đều liên quan mật thiết đến nghiệp nhân mà họ đã gieo trồng trong quá khứ (bao gồm cả tiền kiếp), vì vậy những ai có ân thì phải báo ân, những ai có oán thì phải báo oán, những ai nợ thì phải trả nợ; kẻ hại người cuối cùng cũng sẽ bị hại;

Quan hệ nhân quả như hình với bóng, khó lòng tránh khỏi (trừ khi sau đó cố gắng làm điều thiện để chuộc lại lỗi lầm). Tuy nhiên để chấp nhận quan điểm này thực sự không dễ dàng gì; phần lớn mọi người đều phải –

Trải qua thời gian dài kinh nghiệm và thậm chí nhiều lần trả giá rất lớn mới dần dần lĩnh hội được lý do này. Đây chính là con đường mà “nhân đạo” cần phải trải qua.

Liệu bạn đã tu tập đến tận cốt lõi của bản thân chưa? Tu tập liệu có thật sự đạt đến mức độ sâu sắc hay chỉ dừng lại ở bề ngoài? Chỉ chăm sóc hành vi bên ngoài của cơ thể mà nếu tư tưởng bên trong không thay đổi thì những sai lầm tương tự vẫn sẽ tiếp tục tái diễn;

Chỉ sửa đổi tư tưởng nhưng nếu hành vi hoàn toàn không thay đổi thì đó chỉ là một loại “nói suông” chứ không phải là tu tập. Vì vậy xem một người có đang tu tập hay không dựa vào việc tư tưởng và hành vi của họ có thay đổi theo hướng đúng đắn hay không. Do đó định nghĩa về hai chữ “tu hành” –

Chính là sửa đổi những quan niệm và hành vi sai lầm trước đây của chúng ta – khiến chúng phù hợp với tư duy và hành vi trung đạo. Tư duy trung đạo chỉ ra rằng đó là “Chánh niệm”, còn hành vi trung đạo tức là “Chánh hành”. Vậy trung đạo là gì?

Trung đạo được hiểu là đại trung chính xác, không thiên lệch hay thiên vị; đại từ bi công bằng vô tư; chân lý tối cao và đức hạnh vô ngã. Nếu lệch khỏi những triết lý này – các quan niệm và hành vi sai lệch đều thuộc phạm trù của “tu tập bề ngoài”.

Con người có hình thức bên ngoài và nội tâm bên trong; nếu biểu hiện ra bên ngoài thì tự nhiên rõ ràng dễ thấy; còn nếu tồn tại trong nội tâm thì thường xuyên biến hóa khôn lường và khó lòng nhận biết. Do đó suy nghĩ bên trong cùng với việc làm bên ngoài,

Nếu nghiệp quả chưa chín muồi thì thật khó đoán định kết quả thành bại. Giống như việc làm cuối cùng liệu có thành công hay không phụ thuộc vào sự tiến triển tổng thể của tình huống hiện tại.

Khi chưa đóng quan tài lại – thật khó mà xác định thiện ác công quả; cần chờ đến khi hơi thở ba tấc ngừng lại mới xác định được thiện ác rõ ràng. Nếu nửa đời trước sống tốt đẹp nhưng nửa đời sau lại phạm tội ác nghiêm trọng thì những tội lỗi trái với trời đất ấy đủ sức ảnh hưởng phá hoại tất cả thiện nghiệp tích lũy từ nửa đời trước.

Do đó khi con người vẫn chưa đóng quan tài lại thật sự khó phân biệt ai thiện ai ác. Giống như lúc chưa thấy ánh sáng thì âm dương khó phân biệt; trí tuệ chưa xuất hiện thì chính tà khó phân biệt.

Bản chất con người vốn chẳng có thiện ác mà chỉ khi một ý niệm khởi lên mới phát sinh phân biệt thiện ác đúng sai. Do đó nguyên nhân kích thích thực chất chính là chìa khóa quan trọng cho thiện ác.

Con người sống giữa muôn trùng môi trường khác nhau nếu thiếu đi “Minh trí” ứng phó với mọi hoàn cảnh thì những điều bất ngờ xảy ra chắc chắn khiến họ trở tay không kịp. Mỗi cá nhân đều mang tính cách khác nhau với suy nghĩ riêng biệt; một số người vững vàng như núi Thái Sơn còn một số khác lại nhẹ dạ cả tin,
mơ hồ.

Thực tế xuất phát từ nghiệp lực thói quen cá nhân dẫn đến sở thích khác nhau cùng cách nhìn nhận riêng biệt. Nếu thời gian tiếp xúc với chân lý quá ngắn ngủi hoặc năng lực hạn chế tự nhiên sẽ khó chịu đựng nổi thử thách nghịch cảnh ngay lập tức sụp đổ.

Chỉ cần hoàn cảnh bên ngoài nổi bật lên bất cứ lúc nào cũng dễ dàng khơi gợi ý niệm kích thích tâm trí kết nối với ngoại cảnh rồi phát sinh ra một loại quan niệm nào đó;
điều này khiến cho tâm trí bị biến hóa nhanh chóng buộc những điều xấu xa tiềm ẩn bên trong bộc lộ ra,

Hiện rõ tình huống sai lệch biến hóa liên tục. Vì vậy những học viên mới bắt đầu học Phật pháp hay Đạo pháp do thiếu sức mạnh tinh thần nên rất khó đạt được trí huệ sáng suốt ổn định giữ vững tâm tính thanh tịnh,
khó lòng đạt được trạng thái nhẹ nhàng tự tại.

Bởi vì sự biến động của tâm tính vô hình vô sắc rất khó nhận biết; rất khó hiểu về từng giây phút biến hóa giống như trời đất huyền bí,
thay đổi bất ngờ. Từ đây ta thấy rằng việc tu luyện cần phải bắt đầu bằng việc phát triển trí huệ,
ổn định tâm tính giữ gìn sự thanh tĩnh!

“Thân ở trong vòng xoáy nhưng lòng vẫn đứng ngoài” hoặc “Thân sửa theo đường đời nhưng lòng sửa theo đường thoát ly” đây chính là phương pháp tu luyện giữa thân và tâm; nếu thân không tham gia vào thế gian thì nghiệp chướng nhiều đời sẽ chẳng thể “giải quyết”, còn nếu lòng không thoát khỏi thế gian thì vô số phiền não cùng trở ngại cũng chẳng thể đạt được “giải thoát”,

Còn về phần “tâm” mà nói thuộc về cấp độ cao hơn nữa; nếu tâm không an định thì linh hồn chẳng thể phát sinh trí huệ vì vậy yếu tố then chốt nhất để nuôi dưỡng tâm chính là “định”, chân lý của “định” chính là ~

Những gì đã nói trong 《Đại Thượng Thanh Tĩnh Kinh》 về “Chân Thanh” và “Chân Tĩnh”, (Nếu muốn thật sự “định” trái tim cần thông qua thiền tọa mới đạt tới cảnh giới “tâm an”).

Nếu chẳng thể đạt tới 《Chân Tu Hành》 nơi hai cái rỗng rang của bản chất trái tim như vậy mãi mãi sẽ chẳng chỉ mong cầu thành tựu trên con đường Đạo nghiệp mà còn gây tổn thương cho linh thể mình rơi vào vòng luân hồi nhiều đời nhiều kiếp,
và lang thang giữa sinh tử!

by-Phượng Hoàng Sơn Mạch Từ Hoàng Cung

Để lại một bình luận