Quan điểm tu hành đúng đắn

posted in: Loại sống 0

正確的修行觀

Hiện nay, tại Đài Loan và nhiều nơi trên thế giới đang nổi lên một trào lưu “tu hành”. Tuy nhiên, điều này dường như không cải thiện được khí chất xã hội. Mặc dù có rất nhiều chùa chiền và đạo tràng, nhưng dường như không có ảnh hưởng trực tiếp đến các học giả hiện tại, điều này khiến mọi người phải nhận thức lại về tu hành và cần có hiểu biết sâu sắc hơn về thuật ngữ này.

Tu hành phải bắt đầu từ việc thực hành các pháp hữu vi, từ đó mới dần dần tiến vào việc thực hành vô vi. Có hữu vi thì mới có thành tựu, mà thành tựu thì sẽ có hư hoại; như vậy thì không thể thoát khỏi bốn trạng thái: thành, trụ, hoại, không.

Trong Kinh Bát Nhã có nói: Tâm nguyên thủy – “bản tính tiên thiên”, thuộc về “không ô nhiễm cũng không thanh tịnh, không tăng cũng không giảm”, là tư tưởng trung đạo không rơi vào hai bên, là chân thực nhất và thuần khiết nhất. Nguồn gốc của chân lý thực tại chính là không thêm bất kỳ tạp chất nào.

Những gì thường được nói đến là “tính thanh tịnh nguyên bản”, thực ra đó chỉ là cách tiếp cận từ góc độ khuyến thiện để dẫn dắt. Người học tu nên có sự hiểu biết sâu sắc hơn về điều này. Chân lý thực tại vì thuộc về trung tính nên mới có khả năng rơi vào hai bên thiện ác.

“Thiện” và “ác” là những phẩm chất hoàn toàn khác nhau; làm việc thiện không đồng nghĩa với việc không có ác ý, làm ác cũng chưa chắc đã hoàn toàn thiếu đi mặt thiện. Thường nghe người ta nói: chỉ cần đừng làm điều xấu, đừng hại người là đủ; nhưng đó chỉ là nguyên tắc cơ bản của nhân đạo, không có nghĩa rằng họ hoàn toàn thiện lương.

Người tu hành nên giữ gìn sự thanh tịnh trong thân khẩu ý ở mặt thiện; nhưng nếu vì “thiện niệm” – tôi là người tốt, tôi đang làm việc thiện, tôi đang tu hành… và nhiều yếu tố khác khiến cho “thiện niệm” trở nên thừa thãi.

Điều này vô hình chung sẽ khiến chúng ta hình thành sự bám víu và mong đợi đối với… tham lam, sân hận và si mê; cái tôi nội tâm tinh tế sẽ vì thế mà phát sinh. Điều này sẽ trở thành gánh nặng trên con đường đời cũng như trong tu hành của bạn và dần dần tích lũy hình thành “kiêu ngạo, tự mãn và chấp trước”.

Học Phật hay học Đạo cần phải tìm được bản tâm – tìm thấy “chính mình”, phục hồi lại “bản ngã” ban đầu nhất của “tâm”. Đối với những người mới bắt đầu tu tập – cần phải giữ gìn sự thanh tịnh trong thân khẩu ý mọi lúc mọi nơi; đối với ý thức bề mặt cần phải có sự nhận thức phù hợp nhất…

Dần dần hòa hợp thân tâm linh của mình một cách mềm mại để an trú trong trạng thái tự nhiên, hòa bình và tự do. Dù đang trong quá trình tu hành nhưng sẽ không rơi vào hình thức… chỉ chú trọng vào nghi lễ phức tạp bề ngoài hoặc chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu và bàn luận.

Người học không cần phải bám víu hay lo lắng về suy nghĩ “đang tu hành”, điều này sẽ tạo ra một áp lực vô hình khác cho bạn. Một khi “tu hành” trở thành một áp lực hay gánh nặng thì nó sẽ giống như một công việc; khi đã trở thành công việc của bạn thì cuối cùng bạn sẽ rơi vào cái bẫy “của cái tôi” hay “hữu vi”.

Khi nó trở thành “của cái tôi”, đó sẽ chỉ là nuôi dưỡng bên ngoài mà thôi; nó chỉ làm tăng thêm trọng lượng cho bạn. Nó không thể thật sự đi vào cốt lõi “bản tâm nội tại” của bạn. Dĩ nhiên bạn sẽ trông khác biệt hơn so với phiên bản cũ của mình nhưng tất cả những điều này chẳng liên quan gì đến việc tìm lại bản ngã hay phục hồi chính mình.

Có những thứ bạn đạt được thì chắc chắn sẽ có thứ gì đó để bám víu. Tu hành chân chính thì chẳng thể sửa đổi được gì cả, chẳng thể đạt được gì cả, chẳng thể bám víu hay thành tựu gì cả; chỉ đơn giản là loại bỏ những tạp chất thừa thãi để loại bỏ năng lượng tiêu cực mà đạt tới trạng thái trở về nguyên bản. Trong quá trình quay về đó vì thuận tiện chúng ta đôi khi sử dụng thuật ngữ “tu hành”.

Tuy nhiên khi bạn nghe thấy nó thì hãy thật sự hiểu rõ rằng đừng bao giờ dừng lại ở bề mặt nông cạn tức là “tu hành bề ngoài”. Chỉ cần dùng sự tỉnh táo và nhận thức của bạn; khi bạn chưa đủ tỉnh táo tức là vô minh; khi bạn chưa đủ nhận thức tức sẽ biến thành ngu muội.

Khi nhận thức chính là bạn thì bạn chính là nhận thức; khi tỉnh táo chính là bạn thì bạn chính là tỉnh táo. Khi “ý thức cái tôi” biến mất thì còn đâu phiền não? Thủ phạm gây ra phiền não chính là “cái tôi” đang quấy nhiễu; “cái tôi” thường khiến cho pháp vi diệu (vô vi) trở thành hữu vi.

Kinh Kim Cang nói: “Nếu lấy ‘sắc’ thấy Ta, lấy ‘thanh’ cầu Ta thì kẻ ấy đi theo con đường sai lầm mà chẳng thể thấy Như Lai.” Sắc thanh nhân đều do cái tôi sản sinh ra và phẩm chất của cái tôi. Kinh Đàn Kinh Bát Nhã cũng nói: “Người giác ngộ pháp vô niệm vạn pháp đều thông suốt; người giác ngộ pháp vô niệm thấy cảnh giới chư Phật; người giác ngộ pháp vô niệm đạt tới địa vị Phật.”

“Vô niệm” chính là cốt lõi của Phật pháp, linh hồn sống động của Phật pháp. Vô niệm nghĩa là gì? Vô niệm vẫn còn niệm đấy! Vô niệm sao lại có niệm? Nghĩa là “niệm” ấy không lưu trú trên suy nghĩ hay chấp trước vào suy nghĩ ấy; suy nghĩ ấy không phát xuất từ bộ não của cái tôi (được gọi là tác dụng của bộ não).

Do vậy suy nghĩ như vậy tức chính là vô niệm; suy nghĩ như vậy sẽ không kéo dài ra ngoài nữa tức vừa suy nghĩ vừa lìa khỏi suy nghĩ vừa chẳng chấp trước vừa chẳng có cái tôi mà chỉ đơn giản dùng tâm nguyên thủy – “bản tâm” để chiếu soi mà thôi; ánh sáng chiếu soi ấy tức chẳng lưu lại dấu vết nào cả.

Nếu mỗi một ý nghĩ đều khiến nội tâm tác động gây ra dao động thì mỗi một ý nghĩ đều mang khả năng ô nhiễm đến bản tâm của bạn; nếu vậy bạn sẽ coi trọng ý nghĩ ấy quá mức rồi tất cả phiền não cùng bất mãn… liền phát sinh từ đây tạo ra sự phiền toái cho cuộc sống của bạn.

Khi hiểu rõ trái tim chân thật của mình và có thể nhận biết ngay lúc hiện tại thì ý tưởng của bạn giống như một đám mây thoảng qua thoắt ẩn thoắt hiện nó sẽ chẳng gây cản trở cho bạn. Câu nói cổ xưa rằng: “Núi xanh vẫn đứng yên đó còn mây trắng cứ bay qua bay lại.” Đây gọi是真无念 (vô niệm chân thật), cũng tức cảnh giới Phật.

Và Phật đâu phải vô niệm? Phật chính ngay trong từng ý tưởng liền lìa khỏi từng ý tưởng! Cả hai khái niệm ‘hữu’ và ‘vô’ đều thống nhất trong trạng thái thanh tịnh viên mãn hòa hợp. Nếu một người hoàn toàn vô niệm thì hoặc đã chết hoặc giống như gỗ đá mà thôi!

Vì vậy hữu niệm và vô niệm chẳng phải hai khái niệm riêng biệt! Tất cả những gì rơi vào nhị phân hay tam phân đều mang tính tương đối rồi xa rời khỏi con đường bất nhị (không hai). Nếu hỏi rằng làm thế nào để tu tập? Làm thế nào để tương ứng? Mọi đại nghiệp vĩ đại đều cần đến lòng tin kiên định cùng kiên trì – đây chính điều kiện tiên quyết đầu tiên!

“Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận” viết: “Pháp môn đốn ngộ lấy vô niệm làm căn bản mục tiêu nhằm tránh vọng tâm khởi lên.” Thanh tịnh làm thể chất trí huệ làm công dụng.” Vô niệm ở đây đề cập đến việc tránh xa tà kiến chứ không phải tránh xa chánh kiến! Tà kiến nghĩa rằng mê muội tà kiến nghĩa rằng thiếu giác ngộ! Chánh kiến nghĩa rằng giác ngộ chánh kiến nghĩa rằng đúng giác!

Chánh kiến còn gọi是“唯念菩提”,菩提就是觉;念念觉而不迷,这就是正念。正念,也可以说是在一切境界里不起心动念,这就是无念。得无念时,自然解脱,这就是“无念行”。

Thời gian đối với chúng ta đâu quan trọng lắm! Hơn nữa đâu cần lâu đến vậy? Một đời cũng đủ để đạt được! Ngay lúc hiện tại đã đủ rồi! Chỉ cần thấy tính tức đủ rồi! Gì gọi thấy tính? Chúng ta từ đâu tới? Chúng ta đến thế giới này nhằm mục đích gì? Đi rồi chúng ta sẽ đi đâu?

Hiện tượng chung sống cùng ý nghĩa cuộc sống thực sự是什么?Nếu đối với tất cả những điều này nếu lòng trí hiểu rõ ràng,就是见性。换言之,“见”即是了悟到原本不朽的、永恒的真我,也就是自他不二,生佛平等的我。

Chỉ cần liên tục luyện tập并确认它,它就是法 thân,這就是法身成就。只要你能真正了解并深信不疑,法身成就并不难,只要你能把全部的情感、理智等,全部的人格融入此一正见,你便能时常保持在安祥、觉知中,没有比这更殊胜的。

Gieo hạt ắt gặp mùa vàng,努力 chắc chắn dẫn tới thành công。Hãy quên đi“gieo hạt”,“thu hoạch”,“nỗ lực”,“thành công”。Chỉ cần tùy duyên mà học hỏi即可。Cần thông qua việc quên đi những kỳ vọng này,nhẹ nhàng tiếp xúc,nhắm tới mục tiêu lâu dài,mới có thể gia tăng duyên phước,ngày ngày tinh tiến,cuối cùng đạt được kết quả!

by-Phong Hoàng Sơn Mạch Từ Hoàng Cung

Để lại một bình luận